Rủi ro khi tham gia thị trường gỗ xuất khẩu

TIN TỨC

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Tin tức

Rủi ro khi tham gia thị trường gỗ xuất khẩu

27/09/2022

Ngành gỗ hiện đang gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa các cường quốc trên thế giới tiếp tục diễn ra. Trước những vụ kiện liên quan đến phòng vệ thương mại diễn ra ngày càng nhiều, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công thương) cảnh báo một số doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam sẽ phải đối mặt với rủi ro trong luồng cung cấp gỗ nguyên liệu bất hợp pháp từ Nga và U-crai-na chủ yếu được Việt Nam nhập khẩu qua Trung Quốc. Hiện, Hoa Kỳ đang là thị trường nhập khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam nhiều nhất trong các thị trường nhập khẩu, tỷ trọng đạt 66% trong năm 2021. Từ đầu năm 2022 đến nay, ngành gỗ liên tiếp phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá từ Hoa Kỳ, Hàn Quốc,... Gần đây nhất, Cơ quan Ðại diện thương mại của Hoa Kỳ cáo buộc ngành gỗ Việt Nam sử dụng gỗ bất hợp pháp tại thị trường nội địa và trong sản phẩm xuất khẩu vào nước này. Ðiều này khiến cho hoạt động kinh doanh của ngành gỗ tại các thị trường xuất khẩu trong thời gian tới dự được báo sẽ có nhiều biến động và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

1. Rủi ro về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu

Yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp của các mặt hàng gỗ là một trong những yêu cầu quan trọng nhất tại các thị trường Hoa Kỳ, EU và Úc. Do đó, việc đáp ứng yêu cầu này được xem là yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam vào các thị trường này. Nguồn gỗ nguyên liệu được sử dụng để sản xuất chế biến các mặt hàng gỗ xuất khẩu hiện bao gồm cả gỗ nhập khẩu và gỗ khai thác trong nước.

Dữ liệu thống kê của Tổng cục Hải quan về thực trạng sử dụng gỗ nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu chỉ ra một số rủi ro cơ bản có liên quan đến tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu. Để kiểm soát nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu, Nghị định 102/2020-NĐ-CP quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp (Nghị định 102) và các quyết định đi kèm đưa ra các tiêu chí xác định gỗ rủi ro nhập khẩu từ đó đưa ra các cơ chế nhằm kiểm soát rủi ro. Theo nghị định, gỗ nhập khẩu được thực hiện thông qua thiết lập cơ chế kiểm soát nguồn gỗ nhập khẩu và các loài gỗ nhập khẩu. Gỗ rủi ro là gỗ được nhập khẩu từ các vùng địa lý không tích cực và là các loài rủi ro. Nghị định quy định khi nhập khẩu gỗ rủi ro vào Việt Nam các doanh nghiệp nhập khẩu cần phải bổ sung giấy tờ để minh chứng cho tính hợp pháp của gỗ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro.

Về gỗ nhập khẩu, bình quân hàng năm các doanh nghiệp của Việt Nam nhập khẩu khoảng 4­ - 4,5 triệu m3 quy tròn gỗ nguyên liệu. Lượng gỗ này đa dạng về thành phần loài, nguồn nhập khẩu và được đưa vào chế biến nhằm phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Theo tiêu chí phân loại gỗ nhập khẩu của Nghị định 102, đây là nguồn gỗ rủi ro cao, nguồn gỗ này được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu được sử dụng phục vụ tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên, vẫn có một phần gỗ nhập khẩu được sử dụng chế biến các sản phẩm phục vụ xuất khẩu tuy nhiên hiện chưa có các con số thống kê cụ thể về tỷ lệ cũng như loại gỗ nhập khẩu được sử dụng cho chế biến đồ gỗ xuất khẩu.

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), giao dịch giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu chủ yếu được thực hiện thông qua lòng tin, với chất lượng gỗ và giá cả là điều mà doanh nghiệp nhập khẩu quan tâm hàng đầu chứ không phải là tính hợp pháp của gỗ. Hầu hết các doanh nghiệp cho rằng người xuất khẩu là người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính hợp pháp của gỗ và bởi gỗ đã được các cơ quan chức năng cho phép xuất khẩu, do vậy tính hợp pháp của gỗ được đảm bảo.

Do đó, ngành gỗ cần phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn với ngành hải quan trong xác định các mặt hàng rủi ro và các công ty có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp; xây dựng kênh kết nối thông tin giữa Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam với cơ quan quản lý nhà nước liên quan nhằm cập nhật thường xuyên thông tin về các dấu hiệu gian lận, giả mạo xuất xứ để các cơ quan hữu quan sớm có kế hoạch áp dụng các biện pháp can thiệp kịp thời.

2. Rủi ro trong kiểm soát chuỗi cung hiệu quả

Không có hệ thống kiểm soát chuỗi cung hoặc vận hành hệ thống kiểm soát chuỗi cung yếu đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đứng trước các rủi ro trong việc không thể đáp ứng các yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp và các yêu cầu khác khi tham gia xuất khẩu vào thị trường chính. Quản lý doanh nghiệp, bao gồm cả quản lý toàn bộ chuỗi cung một cách chặt chẽ là một trong những cơ chế hiệu quả nhằm loại bỏ những rủi ro đối với nguồn gỗ bất hợp pháp lọt vào chuỗi cung. Hệ thống quản lý chuỗi cung hiệu quả cũng góp phần giảm thiểu hoặc thậm chí loại bỏ các rủi ro khác có liên quan đến các vấn đề xã hội và môi trường. Ngoài ra, áp dụng hệ thống chuỗi cung hiệu quả còn trực tiếp góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng tính cạnh tranh trong thương mại sản phẩm. Hiện các hệ thống quản lý chuỗi cung được áp dụng phổ biến trong ngành gỗ bao gồm hệ thống ISO 9001/2008, FSC FM /COC, BSCI và SA 8000.

Trong khi đó, có nhiều rủi ro trong chuỗi cung xuất khẩu. Rủi ro này xảy ra ở tất cả các khâu trong chuỗi cung, từ khâu quản lý rừng, khai thác, vận chuyển, chế biến và thương mại. Bộ hồ sơ nhập khẩu hiện tại mà các doanh nghiệp sử dụng bao gồm 5-6 loại giấy tờ nhưng chưa cho phép khẳng định gỗ nhập khẩu là hợp pháp.

Như vậy, theo Bộ Công Thương, để bảo đảm nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ, cần duy trì chính sách nhập khẩu thông thoáng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp. Sớm có quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu ổn định trong nước, đồng thời tăng cường trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu ngày càng cao cho ngành chế biến gỗ. Cần kiểm soát chặt chẽ gian lận thương mại, trong đó, tuân thủ nghiêm ngặt Hiệp định Ðối tác tự nguyện VPA/FLEGT, một bộ phận của EVFTA, có tác động rất lớn đến ngành gỗ Việt Nam trong thời gian tới.

3. Rủi ro trong sử dụng lao động

Theo yêu cầu của nhiều thị trường xuất khẩu, đặc biệt tại Hoa Kỳ, EU và Úc các sản phẩm gỗ tiêu thụ ở các thị trường này là sản phẩm hợp pháp nếu doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh tuân thủ toàn bộ các quy định của nước sở tại có liên quan, trong đó bao gồm pháp luật về lao động. Các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam nếu không tuân thủ nghiêm túc các quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này của Việt Nam thì sản phẩm gỗ xuất khẩu của họ sang các thị trường này cũng sẽ đối mặt với các nguy cơ rủi ro.

Hiện có khoảng hơn 300.000 lao động đang trực tiếp tham gia vào ngành chế biến gỗ. Với tính chất và đặc điểm sản xuất của ngành gỗ hiện tại, rủi ro có liên quan đến yếu tố lao động chủ yếu ở 02 khía cạnh: Tuổi lao động và loại hợp đồng lao động.

Về tuổi lao động, Bộ luật Lao động Việt Nam quy định “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động...” Bộ luật này có quy định riêng cho nhóm lao động trong độ tuổi từ 15 tới dưới 18 tuổi. Đồng thời Bộ luật cũng ghi nhận và quy định các yêu cầu riêng với các trường hợp lao động dưới 15 tuổi nhưng không thấp hơn 13 tuổi và lao động trên 65 tuổi.

Về hợp đồng, Bộ luật Lao động quy định ba loại hợp đồng lao động có thể được sử dụng, bao gồm hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn (12-36 tháng) và hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Quyền lợi và trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động phụ thuộc vào từng loại hình hợp đồng. Pháp luật có ràng buộc một số điều kiện đối với việc ký một số loại hợp đồng (ví dụ không được ký hợp đồng mùa vụ để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, không được ký hợp đồng có thời hạn quá hai lần...). Ngoài ra, pháp luật cũng quy định hợp đồng lao đồng bắt buộc phải được giao kết bằng hình thức văn bản, do đó các trường hợp không có hợp đồng lao động bằng văn bản (chỉ giao kết bằng lời nói hoặc hành vi) sẽ bị xem là vi phạm pháp luật.

Một trong những vấn đề quan trọng để tránh rủi ro trên hiện nay là bố trí kinh phí cho các chương trình đào tạo nguồn nhân lực của ngành công nghiệp gỗ, xúc tiến thương mại, xây dựng quảng bá thương hiệu ngành gỗ. Do đó, cần ưu tiên triển khai các chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề, bảo đảm cung ứng nhân lực cho ngành này. Các địa phương cần tận dụng cơ hội từ các Hiệp định thương mại tự do và trên cơ sở lợi thế của địa phương để phát triển sản xuất các sản phẩm chủ lực, có kế hoạch thu hút đầu tư vào sản xuất, chế biến các mặt hàng này hướng tới mục tiêu xuất khẩu bền vững.

Chủ động triển khai các hoạt động liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng, chế biến gỗ tập trung, bao gồm cả khu công nghiệp dịch vụ hỗ trợ cho chế biến gỗ. Tiếp tục tìm kiếm các thị trường mới nổi, tiềm năng, nhằm đa dạng hóa thị trường. Cùng với việc tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật trong nước và quốc tế, các nhà quản lý doanh nghiệp cần tiếp tục phát huy vai trò liên kết, xây dựng chuỗi cung ứng, nắm bắt thông tin, kết nối với các cơ quan quản lý liên quan để kiểm soát tốt tình hình./.

Lê Anh Tú

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT

TIN KHÁC