Ngành công nghiệp Phú Thọ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, là đầu tàu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp đã thu hút được một số doanh nghiệp FDI lớn, tạo ra các sản phẩm có khả năng cạnh tranh và có thị trường tiêu thụ ổn định. Bước đầu, tỉnh đã hình thành những ngành công nghiệp sản xuất mới như sản xuất linh kiện điện tử, viễn thông, năng lượng tái tạo…phù hợp với định hướng chung của Chính phủ và của tỉnh.
Theo báo cáo của Sở Công Thương Phú Thọ, tình hình sản xuất của các ngành công nghiệp chủ yếu trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2016-2020 cụ thể dưới đây.
1. Cơ khí chế tạo, sản xuất kim loại:
Ngành công nghiệp cơ khí trên địa bàn bao gồm các ngành: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn bao gồm công nghiệp sản xuất các cấu kiện kim loại, thùng, bể chứa và nồi hơi phục vụ cho các ngành xây dựng và các ngành sản xuất khác; Rèn, dập, ép và cán kim loại; Gia công cơ khí; Xử lý và tráng phủ kim loại; Sản xuất dao kéo, dụng cụ cầm tay cho các ngành sản xuất; Sản xuất các loại đai ốc, phụ tùng, linh kiện phục vụ sửa chữa, lắp ráp động cơ tàu, thuyền, phương tiện vận tải; Sản xuất thiết bị sử dụng năng lượng chiết lưu; Sản xuất vòi và van; Gia công, chế tác bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động; Lắp ráp, chế tạo các thiết bị nâng, hạ và bốc xếp; Sản xuất dụng cụ cầm tay chạy bằng mô tơ hoặc khí nén; Sản xuất máy thông dụng khác….
Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành cơ khí trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 58,3% số lượng cơ sở doanh nghiệp phân bố ở ngoài các khu, cụm công nghiệp và 41,7% doanh nghiệp phân bố ở trong các khu, cụm công nghiệp. Giá trị tăng thêm năm 2020 gấp gần 2,9 lần so với năm 2015. Đã có một số cơ sở, doanh nghiệp đầu tư sản xuất các sản phẩm CNHT cơ khí, chế tạo, bước đầu đã có thương hiệu, tạo được lòng tin và chỗ đứng trên thị trường cho các sản phẩm như: Phụ tùng, linh kiện lắp ráp ôtô, xe máy của Công ty TNHH công nghệ COSMOS 1; bulong, ốc vít của Công ty cổ phần cơ khí tạo hình Windtech VP; các sản phẩm khuôn đúc chính xác của Công ty cổ phần cơ khí đúc Việt Nam; các sản phẩm tráng phủ, kẽm nhúng nóng của Cty CP Việt Vương; gia công, chế tác các phụ tùng động cơ, thiết bị nâng hạ của Cty cổ phần Kim Quy, Cty cổ phần cơ khí Thanh Ba; các sản phẩm mái tôn, thép hình của Công ty TNHH XD&TM Ngọc Tuệ, CTCP Trường Phát; nhôm định hình của CTCP nhôm Sông Hồng… Thị trường nội địa chiếm 58,1% tổng doanh thu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí và thị trường nước ngoài chiếm 41,9% tổng doanh thu. Thị trường nội địa tiêu thụ phần lớn các sản phẩm tấm lợp bằng kim loại phục vụ cho các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng; công cụ cầm tay, một số thiết bị, linh kiện cho máy công nghiệp, phương tiện vận tải, đóng tàu... Đối với doanh thu tiêu thụ ở thị trường trong nước, cung cấp cho các nhà sản xuất ngoài tỉnh làm nguyên liệu, tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, tiếp theo là cung cấp cho các doanh nghiệp bán buôn, các đại lý, cung cấp cho các nhà sản xuất trong tỉnh làm nguyên liệu, tư liệu sản xuất. Đối với thị trường tiêu thụ ngoài nước, sản phẩm hỗ trợ ngành công nghiệp cơ khí được cung cấp trực tiếp cho các nhà sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, tiếp theo là cho các công ty mẹ. Các sản phẩm này được sản xuất chủ yếu bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2. Ngành chế biến thực phẩm, đồ uống, chế biến chè và thức ăn chăn nuôi:
Năm 2020, tỉnh Phú Thọ có khoảng trên 5.000 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm và đồ uống trong đó có trên 70 doanh nghiệp còn lại là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình. Trên địa bàn tỉnh hiện có 04 nhà máy sản xuất bia, rượu, trong đó đáng chú ý là nhà máy Bia Sài Gòn - Phú Thọ tại KCN Trung Hà do Công ty Bia nước giải khát Sài Gòn - Phú Thọ đầu tư với công suất 50 triệu lít bia/năm, Công ty Bia NGK Hà Nội - Hồng Hà công suất lên 50 triệu lít/năm và Công ty Bia, rượu, NGK Sài Gòn - Đồng Xuân tại huyện Thanh Ba là thành viên của SABECO. Năm 2020, sản lượng Bia hơi, bia đóng lon đạt 71,77 triệu lít. Các sản phẩm chủ lực của tỉnh bao gồm: Chè, bia, rượu, thức ăn chăn nuôi, rau củ quả, thực phẩm, mì ăn liền, tinh bột sắn. Mặc dù giai đoạn 2016 – 2020, ngành chế biến nông sản- thực phẩm, đồ uống sản lượng sản xuất của nhiều sản phẩm như chè tăng 22%, bia… tăng so với năm 2015. Đến năm 2020 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên chỉ đạt 814 tỷ đồng chiếm gần 7,3 giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp.
- Chế biến chè: Tỉnh Phú Thọ là một trong các địa phương của cả nước có diện tích và sản lượng chè lớn nhất (chiếm 22% sản lượng vùng và gần 15% sản lượng cả nước). Theo thống kê, tỉnh hiện có khoảng trên 16 ngàn ha trồng chè với sản lượng (chè búp tươi) đạt trên 150 ngàn tấn. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm tại 09 huyện trọng điểm phát triển chè của tỉnh, đó là Tân Sơn, Thanh Sơn, Đoan Hùng, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hòa, Cẩm Khê, Thanh Thủy, Phù Ninh. Hiện trên có 61 doanh nghiệp, HTX tham gia sản xuất chế biến chè xanh, chè đen và các loại chè cao cấp có công suất từ một tấn búp tươi/ngày trở lên (tổng công suất đạt 1.368 tấn chè búp tươi/ngày). Ngoài ra, trên địa bản có 18 làng nghề chế biến chè và khoảng trên 1.000 cơ sở chế biến chè xanh thủ công với tổng công suất đạt trên 262.000 tấn/năm. Hàng năm khoảng 20% sản lượng chế biến của tỉnh được xuất trực tiếp ra nước ngoài, khoảng 80% được bán thông qua các doanh nghiệp trong nước. Một số cơ sở chế biến đáng chú ý và chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị công nghiệp của ngành trên địa bàn tỉnh là: Cty chè Phú Bền (100% vốn nước ngoài), công suất chế biến đạt 203 tấn chè búp tươi/ngày; Cty chè Phú Đa với công suất 172 tấn chè búp tươi/ngày; Cty TNHH MTV chè Á Châu Phú Thọ có công suất 55 tấn chè búp tươi/ngày; Cty TNHH chè Ngọc Đồng (45 tấn búp tươi/ngày); Cty TNHH Thế hệ mới... Phú Thọ được đánh giá là tỉnh có hệ thống các cơ sở chế biến chè đen với sản lượng và dây truyền công nghệ hiện đại hàng đầu cả nước. Tổng sản lượng chè xuất của tỉnh năm 2020 ước đạt 53 ngàn tấn.
- Sản xuất thức ăn chăn nuôi: Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi của tỉnh hiện có 02 cơ sở sản xuất đáng chú ý là Cty CP sản xuất thức ăn chăn nuôi Kovi tại huyện Thanh Ba, công suất 14.000 tấn/năm và Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Cổ Tiết, công xuất 27.000 tấn/năm của Cty CP Dinh dưỡng Quốc tế Đài Loan - Chi nhánh Phú Thọ; công ty cổ phần Famous Việt Nam 85.000 tấn/năm; công ty CP đầu tư và PT Thành Hưng 50.000 tấn/năm.
3. Sản xuất vật liệu xây dựng:
Công nghệ sản xuất của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh từng bước được đổi mới. Tỉnh Phú Thọ có trên 400 cơ sở sản xuất, trong đó có 66 doanh nghiệp.
Sản xuất xi măng: Trên địa bàn tỉnh đến thời điểm hiện tại có 02 doanh nghiệp sản xuất xi măng lớn, năm 2015, sản lượng xi măng của tỉnh đạt khoảng 1,22 triệu tấn, tương đương khoảng 85% năng lực sản xuất xi măng hiện có. Hiện năm 2020 đạt 1,471 triệu tấn cơ bản đạt năng lực hiện có.
Sản xuất gạch ốp lát: Hiện có 06 cơ sở sản đang hoạt động sản xuất gạch ốp lát: Công ty CP gạch men Tasa có công suất thiết kế 44 triệu m2/ năm; Công ty CP CMC có công suất thiết kế 18 triệu m2/ năm; Công ty CP gốm sứ Thanh Hà có công suất thiết kế 6 triệu m2/ năm; Công ty CP gốm sứ CTH có công suất thiết kế 4 triệu m2/ năm; Công ty CP Thắng Cường có công suất thiết kế 10 triệu m2/năm; Nhà máy gạch Takao Granite tại xã Thanh Uyên, huyện Tam Nông có công suất 10 triệu m2/năm. Nhìn chung công nghệ của các cơ sở khá tiên tiến, nên sản phẩm làm ra có chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận. Sản lượng gạch ceramic ước đạt 39,17 triệu m2 năm 2020.
Sản xuất gạch xây các loại: Gạch đất sét nung trên địa bàn hiện có khoảng 42 cơ sở sản xuất gạch tuynel với nhiều quy mô khác nhau; tổng công suất thiết kế khoảng 750 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm. Gạch không nung trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 10 cơ sở sản xuất gạch không nung (gạch bê tông xi măng, gạch bê tông khí trưng áp) có quy mô công nghiệp; tổng công suất thiết kế khoảng 360 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm.
Sản xuất Đá ốp lát nhân tạo: hiện tại trên địa bàn tỉnh có 01 cơ sở đã đi vào hoạt động tại CCN Bãi Ba - Đông Thành: Nhà máy sản xuất kinh doanh tấm thạch anh nhân tạo của Công ty Cổ phần Tập đoàn Quartz Stone; Công suất 7,2 triệu m2 /năm; 01 cơ sở đang thực hiện đầu tư tại CCN Bãi Ba - Đông Thành: Nhà máy sản xuất kinh doanh tấm thạch anh nhân tạo và đá nung kết của Công ty Cổ phần Century Stone; Công suất 7,2 triệu m2 /năm.
4. Công nghiệp hóa chất, cao su, nhựa, phân bón:
Công nghiệp sản xuất hóa chất, cao su, nhựa, phân bón luôn là ngành có đóng góp giá trị sản xuất lớn và duy trì khá ổn định trong các giai đoạn phát triển công nghiệp của tỉnh. Hiện tỉnh Phú Thọ có những sản phẩm như sau: hóa chất; phân bón vô cơ, hữu cơ; sợi, bạt PP, PE; SXKD và gia công vải nhựa, dây nhựa, túi nhựa, hạt nhựa; bao bì nhựa; thảm nhựa, ống PVC…Riêng ngành hóa chất có gần 80 doanh nghiệp liên quan đến hoạt động hóa chất, trong đó có 04 doanh nghiệp sản xuất hoá chất như Công ty cổ phần Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao, Công ty cổ phần Đông Á, Tổng công ty Giấy Việt Nam, Công ty cổ phần Hoá chất Việt Trì. Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có hàm lượng công nghệ cao trong lĩnh vực này vẫn chủ yếu do các doanh nghiệp FDI cung cấp. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 144 cơ sở sản xuất, trong đó, tập trung nhiều nhất là các doanh nghiệp FDI từ Hàn Quốc sản xuất các sản phẩm bao bì, vải, bạt PP, PE, dây đai, dây thừng, thảm trải nền…Số lượng các cơ sở, doanh nghiệp trong nước rất hạn chế chủ yếu sản xuất các sản phẩm hóa chất cơ bản, phân bón, gia công sản phẩm bao bì, vải bạt…Thị trường tiêu thụ ngành công nghiệp hóa chất, cao su, nhựa, phân bón chủ yếu là thị trường nội địa chiếm 66,9% doanh thu trong khi đó thị trường nước ngoài chỉ chiếm 33,1% tổng doanh thu. Giá trị tăng thêm theo giá so sánh của ngành cũng tăng dần qua các năm với tốc độ tăng trưởng 4%/năm, trong đó năm 2015 đạt 1086 tỷ đồng và đến năm 2020 đạt 1437 tỷ đồng.
5. Ngành Dệt may:
Ngành Dệt may Phú Thọ liên tục có bước phát triển tích cực, chỉ số sản xuất tăng qua các năm. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp ngành dệt may - da giày chiếm trên 14,5% tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp dệt may, nhất là may mặc hiện nay vẫn chủ yếu là gia công các sản phẩm theo đơn đặt hàng, đối tác đặt nhiều làm nhiều và ngược lại nên tỷ trọng đóng góp vào giá trị gia tăng không cao. CNHT của dệt may đóng góp khoảng 22,6% tăng 1,5 lần so với năm 2015.Các cơ sở, doanh nghiệp công nghiệp dệt may - da giày trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào các khu, cụm công nghiệp. Đến nay có trên 57% số cơ sở, doanh nghiệp tập trung vào các khu, cụm công nghiệp, còn lại khoảng 43% nằm ngoài các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn.
6. Chế biến gỗ, giấy:
Ngành công nghiệp nông sản, biến gỗ - giấy tỉnh Phú Thọ là một vẫn là trong những ngành chủ lực. Hiện có khoảng 21 cơ sở sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy trong đó có 2 cơ sở sản xuất với quy mô lớn là Công ty giấy Bãi Bằng và Công ty cổ phần giấy Việt Trì. Về chế biến lâm sản có một số nhà máy nổi bật như: Nhà máy chế biến gỗ ván ép Junma tại KCN Thụy Vân, công suất 56 nghìn m3/năm; Nhà máy sản xuất gỗ nội thất cao cấp của CTCP TASA Tân Sơn, công suất 60.000 m3/năm. Trong giai đoạn 2016- 2020, ngành chế biến gỗ, giấy của tỉnh có mức tăng trưởng khá, đạt 9,1%/năm. Các sản phẩm chủ yếu đóng góp cao trong giá trị sản xuất công nghiệp của ngành gồm: Gỗ xẻ các loại 200 nghìn m3; Giấy bìa các loại 243 nghìn tấn; ván bóc 125 nghìn m3; gỗ ghép thanh 110 nghìn m3; ván ép 90 nghìn m3...
7. Ngành Khai khoáng:
Khai thác và chế biến khoáng sản đều có tỷ trọng không đáng kể, giai đoạn 2016 - 2020 có xu hướng giảm trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ngành khai khoáng năm 2017 tăng mạnh nhất giai đoạn đạt 145,52%, đến năm 2020 đạt 100,10%. Sản phẩm khai thác chủ yếu của ngành trong giai đoạn này là các loại khoáng sản như quặng sắt, secpentin, talc, than nâu... và các loại khoáng sản phục vụ cho phát triển ngành sản xuất VLXD như: Đá vôi xi măng, cao lanh-felspat, sét gạch ngói, đá xây dựng, cát sỏi... phục vụ thị trường trong và ngoài tỉnh.
8. Sản xuất điện - linh kiện điện tử:
Tỉnh Phú Thọ định hướng phát triển công nghiệp có hàm lượng khoa học cao và hạn chế những tiểu ngành có tác động tiêu cực tới môi trường tuy nhiên hiện nay số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao chưa nhiều. Đến nay, có trên 50 cơ sở, doanh nghiệp ngành công nghiệp điện – điện tử. Trong đó, sản xuất linh kiện điện tử tăng bình quân 28,26% tuy nhiên đây là một ngành mới của Phú Thọ do đó các doanh nghiệp nước ngoài vẫn đóng vai trò chủ chốt với tổng số 14 doanh nghiệp gia công sản xuất linh kiện điện tử. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành điện - điện tử chủ yếu là thị trường ngoài nước. Theo kết quả khảo sát, doanh thu ở thị trường nước ngoài chiếm trên 96% tổng doanh thu, trong khi đó doanh thu ở thị trường trong nước chỉ chiếm khoảng 4%. Sản lượng sản phẩm linh kiện điện tử năm 2020 ước đạt 121,557 triệu chiếc. Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm giai đoạn 2016 - 2020 chỉ đạt 10,93%. Tuy nhiên, xét về giá trị tăng thêm theo giá so sánh năm 2020 tăng gấp gấp 2,8 lần năm 2015.
9. Lĩnh vực Điện lực: Giai đoạn 2016-2020, xác định phát triển hệ thống lưới điện là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy KT-XH tại các địa phương. Ngành Công thương đã chỉ đạo các chủ đầu tư thực hiện đầu tư lưới điện theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016-2020. Đồng thời tham mưu với UBND tỉnh trình Bộ Công Thương phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 -2025 có xét đến 2035. Kết quả đã thực hiện đầu tư hoàn thành 01 trạm biến áp 500kV, 01 trạm biến áp 220kV, 05 trạm biến áp 110kV, cải tạo nâng công suất cho 06 trạm biến áp 110kV, đầu tư xây dựng mới 602 trạm biến áp phân phối cùng với các đường đây trung áp, hạ áp. Với các thôn bản vùng núi, vùng sâu chưa có điện hoặc chất lượng điện kém Sở Công thương đã tham mưu cho UBND tỉnh báo cáo Bộ Công thương bố trí nguồn vốn đầu tư để triển khai thực hiện dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia tỉnh Phú Thọ. Đảm bảo khi dự án hoàn thành sẽ thực hiện cấp điện từ lưới điện quốc gia cho 104 thôn bản, trên địa bàn 23 xã của tỉnh Phú Thọ. Tổng vốn đầu tư thực hiện đầu tư giai đoạn 2016-2020 là trên 4.000 tỷ đồng. Qua đó đã tạo lập được hệ thống lưới điện đồng bộ và tương đối hoàn chỉnh. Vì vậy việc cung cấp điện đã cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và tiêu dùng nhân dân trên địa bàn tỉnh. Điện lưới quốc gia đã được cấp đến 100% số xã trên địa bàn tỉnh, tỷ lệ hộ dân có điện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đạt 99,7%. Năm 2020, chỉ số IIP ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt đạt 108,6%. Việc triển khai đầu tư, tăng cường liên kết lưới điện trong vùng đảm bảo cung cấp điện ổn định, đáp ứng điện cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là phát triển công nghiệp, góp phần nâng cao hấp dẫn trong thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh./.
Đỗ Thị Bích Thủy
Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT