BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG

Cần xây dựng chương trình chuyển dịch năng lượng Việt Nam theo hướng tăng trưởng xanh

24/08/2022

Năng lượng có vai trò quan trọng sống còn đối với phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội của tất cả các quốc gia. Là quốc gia có nền kinh tế năng động, Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm liên tục có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 5,9 - 7%, kể cả trong thời kỳ suy giảm kinh tế thế giới 2006 - 2010 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.

Từ đầu năm 2020 đến nay, mặc dù chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, trong khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, dưới sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt của Chính phủ thực hiện mục tiêu vừa chống dịch hiệu quả, vừa nỗ lực phục hồi nền kinh tế, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng dương ở mức khá. Đặc biệt từ quí 4/2021, sau khi Chính phủ có Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi rõ nét, đạt tăng trưởng GDP cả năm 2,58%.

6 tháng đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực: GDP quí 2 tăng 7,72% (cao nhất trong các quí 2 từ 2011), tính chung 6 tháng tăng 6,42%, sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi (tăng 8,7%), kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 16,4%, trong đó xuất khẩu tăng 17,3%, nhập khẩu tăng 15,5%, thương mại, dịch vụ trong nước đang tăng trở lại (tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng nội địa tăng 11,7%). Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng niềm tin của doanh nghiệp vào kết quả sản xuất kinh doanh đang tăng lên, ngày càng có nhiều doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường. Những kết quả trên cho phép kỳ vọng vào sự tăng trưởng tích cực của kinh tế Việt Nam trong nửa cuối 2022 và những năm sắp tới.

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, triển vọng kinh tế của Việt - trong trung hạn và dài hạn là tích cực. Gần đây nhất, S&P Global Rating (tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập hàng đầu trên thế giới) đã nâng xếp hạng mức tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên mức BB+, triển vọng "Ổn định" và dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam sẽ ở mức 6,9% với xu hướng dài hạn là 6,5 - 7% từ năm 2023. Sau đại dịch Covid-19, Việt Nam là nước duy nhất trong 8 nước khối ASEAN được nâng hạng năm 2022.

Việt Nam đang nỗ lực mạnh mẽ để hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Trong bối cảnh đó, dự báo nhu cầu năng lượng và nhu cầu điện của Việt Nam trong những năm tới sẽ tiếp tục tăng nhanh. Song song với mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng, Việt Nam cũng đang xây dựng Chương trình chuyển đổi năng lượng mạnh mẽ tới năm 2050.

Tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26) được tổ chức tại Glasgow (Vương quốc Anh) vào tháng 11/2021, Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Cam kết này thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam thực hiện các mục tiêu chuyển dịch từ nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống sang các nguồn năng lượng xanh, sạch, giảm phát thải khí nhà kính, chống biến đổi khí hậu.

Với nền kinh tế đang phát triển nhanh, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn thách thức trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển xanh và bền vững. Ngay sau Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp làm Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện các cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 và phân công các Bộ, ngành xây dựng kế hoạch hành động trong từng lĩnh vực. Trong đó, quá trình chuyển dịch năng lượng đang được chỉ đạo đẩy nhanh trên tinh thần phát huy nội lực, đồng thời tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ từ các đối tác quốc tế, các định chế tài chính song phương và đa phương.

Chuyển dịch năng lượng, từng bước giảm dần sự phụ thuộc vào năng lượng hoá thạch, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn cung năng lượng quốc gia, giảm phát thải khí nhà kính là quá trình căn bản nhằm hướng tới tăng trưởng xanh ở các quốc gia và thực hiện các mục tiêu toàn cầu trong chống biến đổi khí hậu. Nhưng chuyển dịch năng lượng không chỉ là vấn đề của nội bộ ngành năng lượng, mà chính là chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế từ mô hình thâm dụng nhiều năng lượng sang mô hình sử dụng năng lượng một cách hiệu quả.

Trong 3 năm gần đây, Việt Nam đã có sự phát triển mạnh của năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió với hơn 16,5 GW công suất điện mặt trời được kết nối vào lưới điện quốc gia (24,3% công suất lắp đặt, 44% công suất tiêu thụ tối đa năm 2020), gần 4 GW điện gió trên bờ và gần bờ đã vào vận hành. Nếu tính cả 20,6 GW thuỷ điện, công suất lắp đặt nguồn điện từ năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay chiếm đến 52,2% công suất lắp đặt toàn quốc. Theo Dự thảo Quy hoạch điện lực Quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện 8), trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều dự án năng lượng tái tạo khác được phát triển. Các mục tiêu mới nhất mà Việt Nam đặt ra trong chuyên dịch năng lượng bao gồm (i) Không phát triển thêm các nhà máy điện than mới sau 2030, phát triển các nguồn điện chạy khi ở mức độ hợp lý để tránh lệ thuộc vào thị trường thế giới và xây dựng lộ trình chuyển đổi nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí hiện có; (ii) Tiếp tục tăng mạnh tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo để tận dụng thế mạnh của Việt Nam (dự kiến phát triển 7 GW điện gió ngoài khơi, 16,1 GW điện gió trên bờ đến năm 2030, 64,5 GW điện gió ngoài khơi, 56 GW điện gió trên bờ đến năm 2045 cùng với khối lượng lớn điện mặt trời, sinh khối, các nguồn tích trữ năng lượng; (iii) Tìm hiểu, tiếp cận sớm các công nghệ để sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp mới như Hydro xanh, Amoniac xanh; (iv) Cải thiện hạ tầng truyền tải và phân phối, nâng cấp khả năng kỹ thuật của hệ thống điện quốc gia để vận hành an toàn, đủ khả năng hấp thụ tỷ trọng ngày càng lớn của năng lượng tái tạo.

Như vậy, thúc đẩy ngành năng lượng phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển của nền kinh tế và đời sống dân sinh, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, thu hút vốn đầu tư của toàn xã hội, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào ngành năng lượng, khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng tái tạo là định hướng nhất quán của Chính phủ Việt Nam. Mục tiêu đã rõ, nhưng chúng tôi hiểu rằng phát triển ngành năng lượng theo hướng bền vững, đảm bảo cung cấp đủ, ổn định nguồn điện năng với giá thành hợp lý luôn là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Đã 20 năm nay, tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện của Việt Nam hàng năm đều ở mức 2 con số, trong đó giai đoạn 2000-2010 là 13%, 2011-2019 là 10,5% (trừ 2020 tăng trưởng thấp do đại dịch Covid-19). Các tính toán của Bộ Công Thương cho thấy nhu cầu điện và năng lượng sẽ tiếp tục tăng trưởng cao cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế của Việt Nam trong những năm sắp tới. Đáp ứng tốc độ tăng trưởng nhu cầu cao như vậy thật sự là một thách thức to lớn.

Vì vậy, xây dựng chiến lược phát triển và chuyển dịch năng lượng phù hợp, khả thi, bền vững, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước là nhiệm vụ có tính quan trọng bậc nhất của Việt Nam.

Trong bối cảnh và yêu cầu đó, Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng Quốc gia và Quy hoạch điện 8 mà Việt Nam đang xây dựng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập nền tảng cho một hệ thống năng lượng hiện đại, cơ cấu bền vững, có độ tin cậy cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Là cơ quan được Chính phủ giao chủ trì xây dựng 2 Quy hoạch nêu trên, Bộ Công Thương mong muốn các Hội thảo như thế này sẽ thảo luận, đưa ra các khuyến nghị chính sách hiệu quả cho các cơ quan hữu trách của Việt Nam về phát triển, chuyển dịch năng lượng và cải thiện mô hình sử dụng năng lượng của các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam. Trong đó, 2 mục tiêu cao nhất vẫn là: (i) Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong trung và dài hạn để đáp ứng các mục tiêu phát triển; (ii) Đảm bảo tiếp cận năng lượng cho người dân và nền kinh tế với chi phí hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển và khả năng thực tế của Việt Nam. Trong đó, điều đặc biệt quan trọng là mọi tầng lớp nhân dân, nhất là nhóm đối tượng xã hội dễ bị tổn thương, người thu nhập thấp và các đối tượng chính sách đều phải được tiếp cận và thu hưởng lợi ích từ các chính sách phát triển năng lượng bền vững với chi phí hợp lý.

Để thực hiện được 2 mục tiêu nêu trên, cần thiết phải: (i) Xác định được cơ cấu năng lượng tối ưu và bền vững của đất nước; (ii) Thu hút mạnh mẽ đầu tư vào cơ sở hạ tầng năng lượng; (iii) Tháo gỡ các điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển các nguồn năng lượng sạch hơn, xanh hơn và các nguồn năng lượng tái tạo, các loại hình năng lượng sơ cấp mới; (iv) Nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm cường độ sử dụng năng lượng và cường độ sử dụng điện của nền kinh tế.

Trên phạm vi toàn cầu, thành công của quá trình chuyển đổi năng lượng sẽ quyết định sự thành công của việc thực hiện các mục tiêu chống biến đổi khí hậu. Là 1 trong 5 quốc gia được đánh giá là phải chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, chuyển dịch năng lượng theo hướng phát triển xanh là vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp cho Việt Nam trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, đồng thời cũng chính là hướng đi để Việt Nam xây dựng một ngành năng lượng có tính tự chủ cao, ít phụ thuộc hơn vào nhiên liệu nhập khẩu trên cơ sở tận dụng tối đa thế mạnh, tiềm năng năng lượng tái tạo sẵn có của đất nước./.

Đỗ Thi Bích Thủy

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT