Ninh Thuận là một tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, khô hạn, nắng, gió gay gắt quanh năm, bức xạ cao nhất Việt Nam. Vẫn tưởng những khó khăn này là những yếu tố bất lợi, kìm hãm sự phát triển của tỉnh, nhưng chính trong những thách thức đó, Ninh Thuận đã dần biến những bất lợi thành cơ hội, cùng với chính sách ưu đãi hợp lý để thu hút các dự án đầu tư, khai thác tiềm năng, thực hiện các dự án năng lượng tái tạo, phấn đấu để Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng của cả nước, nhất là điện mặt trời, điện gió và tương lai không xa là điện gió ngoài khơi.
1. Tình hình thực hiện các dự án năng lượng tái tạo
Ninh Thuận là địa phương có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo (NLTT) với khả năng phát triển tối đa khoảng 13.000 MW điện gió, hơn 8.000 MW điện mặt trời. Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh có 14 vùng gió tiềm năng với khoảng lượng gió thổi đều quanh năm, tốc độ gió trung bình ở độ cao 6,5 m đạt 9,6 m/s. Về năng lượng mặt trời, số giờ nắng trung bình cả năm từ 2.600 đến 2.800 giờ. Tổng sản lượng bức xạ nhiệt mặt trời trung bình 5,221 kwh/m2/năm, cao hơn mức trung bình cả nước. Bên cạnh đó, Ninh Thuận còn có tiềm năng về kinh tế biển với các cảng nước sâu, sản xuất muối, khai thác nuôi trồng thủy, hải sản...
Nhằm khai thác và phát huy có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về phát triển năng lượng, nhất là năng lượng tái tạo, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng; tập trung phát triển đồng bộ sản xuất điện, hạ tầng truyền tải điện, phụ tải điện và các ngành phụ trợ. Ngày 31/8/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số115/NQ-CP về việc thực hiện một số cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ Ninh Thuận phát triển kinh tế xã hội, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân giai đoạn 2018-2023; trong đó, chấp thuận chủ trương phát triển Ninh Thuận trở thành trung tâm năng lượng tái tạo (NLTT) của cả nước. Ngay từ rất sớm, các cấp lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận xác định rõ ràng định hướng phát triển và chủ động chuẩn bị các điều kiện để đón đầu chính sách của Chính phủ. Nhờ định hướng đúng đắn, cơ chế khuyến khích đồng bộ, sự thống nhất cao và linh hoạt trong điều hành của tập thể lãnh đạo cùng sự hỗ trợ của Chính phủ, Bộ Công Thương, Chủ trương xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm NLTT của cả nước đã góp phần biến những khó khăn, thách thức trở thành động lực phát triển, tạo nên làn sóng thu hút đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực NLTT. Nhờ phát triển NLTT đã tạo đột phá và vị thế mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp đáng kể cho phát triển KT-XH của tỉnh.
Tính đến hết năm 2021,trên địa bàn tỉnh đã đầu tư xây dựng hoàn thành 55 dự án năng lượng với tổng công suất 3.423MW.Trong đó, có 35 dự án điện mặt trời (ĐMT) với công suất đạt 2.457MW; 11 dự án điện gió có công suất 667MW và 9 dự án thủy điện đạt công suất 299MW. Tổng công suất đưa vào vận hành thương mại đến cuối năm 2021 khoảng 3.176 MW (điện mặt trời 2.303MW; điện gió trên đất liền 574 MW; thủy điện vừa và nhỏ 299MW) với tổng sản lượng điện phát lên lưới điện quốc gia đạt khoảng 6,250 tỷ kWh.Về công nghệ, tỉnh ưu tiên các dự án năng lượng sử dụng công nghệ hiện đại, hiệu suất cao, sử dụng công nghệ tracking xoay theo hướng có bức xạ mặt trời lớn nhất, sử dụng tuabin gió công suất lớn, không sử dụng hộp số. Các dự án hòa lưới có sản lượng điện trong năm 2021 đạt 6.300 triệu kWh, tạo giá trị gia tăng 3.614 tỷ đồng, đóng góp 6,84% tăng trưởng GRDP của tỉnh.
Trong năm 2022 trên địa bàn tỉnh có gần 25 dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch đã được Thủ tướng, Bộ Công Thương phê duyệt bổ sung quy hoạch phát triển điện lực (được phê duyệt Danh mục nguồn và có phương án đấu nối lưới) đảm bảo đủ điều kiện triển khai đưa vào vận hành giai đoạn 2022 - 2025. Bao gồm: Điện mặt trời, có 9 dự án điện mặt trời nối lưới với tổng công suất 750 MW. Đó là: Dự án Nhà máy điện mặt trời Thiên Tân 1.2, (công suất 40 MW); dự án Nhà máy điện mặt trời Thiên Tân 1.3 (công suất 34 MW); dự án Nhà máy điện mặt trời Thiên Tân 1.4 (công suất 80 MW); dự án Nhà máy điện mặt trời Phước Hữu 2 (công suất 184 MW); dự án Nhà máy điện mặt trời Phước Trung (công suất 40 MW); dự án Điện mặt trời Phước Thái 2, (công suất 80 MW); dự án điện mặt trời Phước Thái 3 (công suất 40 MW); Dự án điện mặt trời Thiên Tân 2.1 (công suất 60 MW) và dự án điện mặt trời Thiên Tân 2.2 (công suất 192 MW).
Về điện gió, Ninh Thuận có 5 dự án điện gió trên bờ đủ điều kiện triển khai với tổng công suất 215 MW. Bao gồm: Dự án Nhà máy điện gió Habaram (công suất 93 MW); dự án Công trình Phong điện Việt Nam Power số 1 (công suất 30 MW); dự án Nhà máy điện gió Đầm Nại 3 (công suất 39,4 MW), dự án Nhà máy điện gió Đầm Nại 4 (công suất 27,6MW); dự án Nhà máy điện gió Công Hải 1 giai đoạn 2 (công suất 25 MW).
Ngoài ra, Ninh Thuận còn có 6 dự án điện gió trên bờ đang chờ Quy hoạch điện VIII bổ sung danh mục nguồn và lưới điện; tổng công suất 406 MW.Thủy điện, Ninh Thuận có 4 dự án với tổng công suất 59 MW gồm: Dự án Thủy điện Tân Mỹ (công suất 10 MW); dự án Hồ thủy điện Mỹ Sơn (công suất 20 MW); dự án Thủy điện Thượng Sông Ông 2 (công suất 7 MW) và dự án Thủy điện Phước Hòa (công suất 22 MW). Điện rác, Ninh Thuận có 1 dự án, công suất 6 MW (dự án đang phụ thuộc vào việc bổ sung quy hoạch phát triển điện lực nguồn và lưới).
Phát triển các dự án năng lượng đã phát huy hiệu quả sử dụng đất và nâng cao giá trị sử dụng đất đối với diện tích đất sản xuất khô cằn, hoang hóa, kém hiệu quả, không có điều kiện để phát triển nông nghiệp. Nhưng khi chuyển sang sản xuất điện mặt trời cho giá trị sản xuất hằng năm 3,84 tỷ đồng/ha (sản xuất 1.920.000 kWh điện/ha).
Phát triển NLTT góp phần giảm phát thải khí nhà kính với tỷ lệ giảm phát thải 97,9% so với sử dụng điện truyền thống (điện than); mà còn tạo động lực lan tỏa để phát triển các ngành khác như: thị trường bất động sản, công nghiệp xây dựng, thương mại, dịch vụ của tỉnh, phù hợp với các mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Hơn nữa, phát triển điện mặt trời mái nhà còn là hình thức sản xuất điện vừa phục vụ mục đích sản xuất, sinh hoạt, vừa tăng thêm thu nhập của người dân. Biến những khó khăn bất lợi thành thế mạnh phát triển bền vững. Tính đến nay, Ninh Thuận có 375 MWp điện mặt trời mái nhà; lĩnh vực NLTT đã thu hút và giải quyết việc làm cho khoảng 6.000 người, chiếm 2,3% lao động đang làm việc trong 6 nhóm ngành kinh tế trụ cột. NLTT đã tạo động lực lan tỏa để phát triển các ngành khác như: Thị trường bất động sản, công nghiệp xây dựng, thương mại, dịch vụ của tỉnh; góp phần phát triển hệ thống hạ tầng giao thông nông thôn phục vụ quản lý, vận hành nhà máy năng lượng kết hợp phục vụ hoạt động sản xuất và nhu cầu đi lại của người dân. Trở thành tỉnh đi đầu trong phát triển NLTT của cả nước, biến những khó khăn bất lợi thành lợi thế phát triển bền vững.
Các dự án đưa vào vận hành đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển các dự án năng lượng tái tạo là một trong 3 trụ cột kinh tế (cùng với du lịch và nông nghiệp) đưa Ninh Thuận vào nhóm 5 địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước trong 5 năm qua.
2. Khó khăn, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
Bên cạnh những ưu thế, giá trị mang lại, phát triển NLTT cũng gặp không ít khó khăn do tốc độ phát triển nhanh chóng của nhiều dự án năng lượng tái tạo cũng gây ra những tác động tiêu cực. Sự phát triển lưới điện có giai đoạn không theo kịp tốc độ phát triển các dự án điện; tình trạng điện mặt trời mái nhà dưới 01MW kết hợp làm trang trại phát triển nhanh làm quá tải lưới điện truyền tải. Mặt khác, do ảnh hưởng tác động của tình hình dịch COVID-19 các nhà máy, khu công nghiệp thu hẹp sản xuất, kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện giảm, dẫn đến dư thừa nguồn điện, các nhà máy điện phải tiết giảm một phần công suất phát điện.
Số lượng dự án phát triển nhanh trong thời gian ngắn dẫn đến tình trạng các tuyến đường vận chuyển tại khu vực tập trung các dự án bị xuống cấp, tình trạng khói bụi do xe vận chuyển trang thiết bị làm ảnh hưởng đến môi trường và đời sống nhân dân. Ngoài ra, còn có một số dự án đã đầu tư xây dựng hoàn thành nhưng chưa được công nhận ngày vận hành thương mại COD và đang chờ giá điện mới (gồm 154MW điện mặt trời và 93MW điện gió). Cùng với đó, chính sách giá điện gió và điện mặt trời đã hết hiệu lực nhưng chưa được ban hành, ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện các dự án đã có trong quy hoạch, cũng như việc kêu gọi thu hút đầu tư các dự án mới.
Đinh Thị Bích Liên
Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT