BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH CÔNG THƯƠNG

Một số giải pháp, nhiệm vụ chủ yếu phát triển ngành Công Thương Long An trong 6 tháng cuối năm 2022

18/08/2022

I. Tình hình sản xuất công nghiệp, thương mại

Trong 6 tháng đầu năm 2022 ngành Công Thương tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp theo chỉ đạo của Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, nhất là việc thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ và Đề án Tái cơ cấu ngành công thương tỉnh. Tình hình sản xuất công nghiệp và thương mại trên địa bàn có những chuyển biến tích cực thể hiện vai trò động lực trong phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu của tỉnh, nhất là sản xuất công nghiệp tiếp tục được khôi phục lại toàn bộ hoạt động và tìm được các đơn hàng mới để đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu.

1. Sản xuất công nghiệp

Theo báo cáo của Sở Công Thương, chỉ số sản xuất công nghiệp ước 6 tháng năm 2022 tăng 5,46% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 6,87%). Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,73%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,23%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,99% so với cùng kỳ.

Về sản phẩm công nghiệp: Số lượng các nhóm ngành sản phẩm công nghiệp 06 tháng năm 2022 là 64 nhóm; trong đó 34/64 nhóm có tốc độ tăng so với cùng kỳ và 30/64 nhóm giảm so cùng kỳ. Cụ thể:

Một số sản phẩm công nghiệp tăng: Bộ phận của thiết bị phân phối và điều khiển điện tăng 233,50%; Sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) tăng 105,99%; Thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 55,71%; Neo, móc và các bộ phận rời của chúng bằng sắt hoặc thép tăng 49,38%; Máy và thiết bị cơ khí khác có chức năng riêng biệt chưa được phân vào đâu tăng 48%; Áo phông (T-shirt), áo may ô và các loại áo lót khác cho người lớn dệt kim hoặc đan móc tăng 42,81%; Vỏ bào, dăm gỗ tăng 38,14%; Sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nguội, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 35,96%; Điốt phát sáng tăng 35,07%; Bia đóng lon tăng 33,63%; Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa đánh bóng hạt hoặc hồtăng 29,59%; Dịch vụ phụ thuộc liên quan đến intăng 29,15%; Hương cây tăng 23,17%; Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 20,81%;….

Một số sản phẩm công nghiệp giảm: Sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu giảm 97,31%; Máy khác dùng trong công nghiệp xay sát, chế biến ngũ cốc hoặc rau khô hoạt động bằng điện giảm 94,71%; Áo sơ mi cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 81,23%; Dịch vụ sản xuất sợi quang và cáp sợi quang giảm 72,25%; Giường bằng gỗ các lọai giảm 52,35%; Áo sơ mi cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 49,37%; Dịch vụ sản xuất thiết bị, dụng cụ y tế, nha khoa giảm 47,82%; Dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 44,07%; Tủ bằng gỗ khác (trừ tủ bếp) giảm 44,04%; Sắt, thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm giảm 42,13%; Dịch vụ vận hành hệ thống thoát nước giảm 41,46%; Các loại cấu kiện nổi khác giảm 36,31%; Vải dệt thoi từ sợi tơ (filament) nhân tạo giảm 35,47%; Động cơ khác, bao gồm cả động cơ vạn năng (một chiều, xoay chiều) có công suất ≤ 37.5 W giảm 30,8%;….

Sự đóng góp tích cực của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp đã từng bước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hàng hóa của doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường lớn và dần tạo được uy tín trên thị trường quốc tế. Tình hình covid-19 cơ bản được kiểm soát do người dân đã được tiêm chủng 03 mũi đầy đủ, tất cả các hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội điều được phép diễn ra theo bình thường mới (bình thường mới: đeo khẩu trang và rửa tay sát khuẩn).

Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và biến động chính trị trên thế giới dẫn đến giá xăng, dầu tăng, nguồn nguyên liệu đầu vào khan hiếm và tăng cao làm cho sản xuất bị gián đoạn nhưng do doanh nghiệp đã trải qua 02 lần đại dịch nên hầu hết các doanh nghiệp đã chủ động thích ứng linh hoạt trong sản xuất (chủ động tìm nguồn nguyên liệu thay thế trong nước thay cho nguồn nguyên liệu nhập khẩu). Nhìn chung sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh mặc dù chưa đạt theo kỳ vọng kế hoạch đặt ra nhưng vẫn duy trì phát triển ổn định.

2. Hoạt động thương mại

Hoạt động thương mại đang dần được khôi phục, thể hiện qua tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng năm 2022 ước đạt 55.898,9 tỷ đồng tăng 10,14% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất khẩu đã khôi phục lại với kết quả 06 tháng đầu năm 2022 đạt 3,77 tỷ USD, tăng 9,69% so với cùng kỳ nhưng vẫn còn ảnh hưởng bởi bất ổn về chính trị làm cho nhiều đơn hàng đi Nga, Ukraine bị hủy, thiếu công rỗng để đóng hàng, giá nhiên liệu tăng cao làm ảnh ảnh đến cước tàu (tăng gần gấp ba đến sáu lần tùy khu vực) làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất khẩu.

Bên cạnh đó, các mặt hàng nông sản (thanh long, chanh, dưa hấu, mít) xuất khẩu qua đường tiểu ngạch Trung Quốc rớt giá và thông quan rất chậm, vẫn còn tình trạng ùn ứ tại cửa khẩu. Nguyên nhân do: (1) Chính sách thương mại biên giới của Trung Quốc ngày càng siết chặt, tăng cường thực thi pháp luật về giao dịch nông sản trên tuyến biên giới: tăng cường giám sát, truy xuất nguồn gốc, mã vùng trồng, mã kho, bao bì, đóng gói, nhãn mác, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật, sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá, tiêu chuẩn đối với hàng hóa, dịch vụ,..., nhưng các doanh nghiệp của tỉnh chưa kịp thời đáp ứng; (2) Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của tỉnh có quy mô nhỏ, siêu nhỏ, chủ yếu mua bán trao tay, không theo thông lệ quốc tế, không rõ chất lượng, giao dịch bằng tiền mặt,... nên dễ gặp rủi ro cao khi giao hàng qua cửa khẩu phụ, lối mở; nhiều rào cản kỹ thuật trong thương mại phía Trung Quốc yêu cầu các doanh nghiệp của tỉnh chưa duy trì, chưa đáp ứng (Lệnh 248, 249 của Trung Quốc; Trung Quốc phát hiện Covid-19 trên thanh long, bao bì đóng gói thanh long; phát hiện vi khuẩn trong cám gạo; Trung Quốc kiểm tra quy trình sản xuất nhiều doanh nghiệp không đảm bảo theo yêu cầu: vệ sinh môi trường, an toàn lao động...); (3) phần lớn Doanh nghiệp của tỉnh thiếu quan tâm trong việc nghiên cứu thông tin về thị trường Trung Quốc; chưa chủ động về logistics cho nông sản (toàn tỉnh có 108 kho lạnh/117 kho thanh long với tổng công suất khoảng 5.600 tấn; các xe container lạnh phụ thuộc vào doanh nghiệp Trung Quốc); vận tải nông sản qua đường sắt, đường biển chưa nhiều, chưa hỗ trợ kịp thời khi cửa khẩu đường bộ bị ùn ứ, dừng, đóng.

II. Giải pháp, nhiệm vụ chủ yếu trong 6 tháng cuối năm 2022

1. Thực hiện các chỉ tiêu

Dự kiến năm 2022: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,0% (kế hoạch 7,0%); Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ là 96.400 tỷ đồng, tăng 12,71%, đạt 100% kế hoạch; Kim ngạch xuất khẩu đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,67%; Kim ngạch nhập khẩu đạt 5,0 tỷ USD, tăng 1,01%; Tỷ lệ hộ sử dụng điện là 99,97% đạt 100% kế hoạch. Phấn đấu đưa thêm 02 cụm công nghiệp (CCN) đi vào hoạt động trong năm 2022.

2. Thực hiện các nhiệm vụ giải pháp

- Rà soát cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết để tạo điều kiện thu hút đầu tư. Phối hợp thực hiện tốt công tác lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

- Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch hành động ngành Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030 theo Quyết định số 4359/QĐ-UBND ngày 20/05/2021 của UBND tỉnh.

- Trình UBND tỉnh: Ban hành Quy chế đánh giá lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN trên địa bàn tỉnh; Phê duyệt Kế hoạch Phòng thủ dân sự ứng phó thảm họa phát tán hóa chất độc. Tổ chức lễ Công bố mô hình sản xuất bánh tráng trộn đảm bảo an toàn thực phẩm. Hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp trong CCN thực hiện sản xuất kinh doanh gắn với thực hiện tốt công tác phòng chống dịch trong quá trình hoạt động sản xuất. Tiếp nhận đăng ký tham gia Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ năm 2023. Theo dõi, đôn đốc, báo cáo tình hình đầu tư các CCN đang triển khai, kịp thời tham mưu UBND tỉnh giải pháp tháo gỡ khó khăn, đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các CCN trong năm 2022; đẩy mạnh xúc tiến, kêu gọi đầu tư CCN. Tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh của ngành Công Thương giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

- Trình UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn tỉnh đến năm 2025. Triển khai: Đề án Đổi mới phương thức kinh doanh tiêu thụ nông sản giai đoạn 2021 - 2025 định hướng đến năm 2030 năm 2022; thực hiện các đề án thương mại điện tử quốc gia và Kế hoạch phát triển thương mại điện tử tỉnh năm 2022. Tổ chức Hội thảo về xúc tiến đầu tư và thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại biên giới. Phối hợp thu hút mời gọi đầu tư chợ, siêu thị, cửa hàng tiện ích, các trung tâm logistics theo quy hoạch; Xây dựng phương án khai thác hiệu quả Trung tâm tổ chức sự kiện hội chợ triển lãm tạm (tại phường 6, TP.Tân An). Tổ chức Đại hội Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

- Tham mưu UBND tỉnh hướng dẫn thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng, công tác phòng cháy, chữa cháy đối với các dự án Điện mặt trời máy nhà. Tổ chức mở lớp tập huấn, kiểm tra, sát hạch cấp thẻ Kiểm tra viên điện lực. Báo cáo Bộ Công Thương đánh giá tình hình thực thi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Theo dõi tiến độ đầu tư dự án năng lượng mặt trời TTC Đức Huệ 2; Dự án Nhà máy Nhiệt Điện Long An I và II; tình hình bổ sung Quy hoạch các dự án Nhà máy Điện mặt trời vào quy hoạch phát triển điện lực tỉnh; kiểm tra tiến độ đầu tư xây dựng lưới điện trung, hạ áp.

- Triển khai thực hiện và nghiệm thu các đề án Khuyến công địa phương, Khuyến công Quốc gia được duyệt năm 2022. Tiếp tục triển khai kế hoạch xúc tiến thương mại năm 2022. Hỗ trợ doanh nghiệp kết nối tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. Thông tin dự báo về thị trường, giá cả trong nước và thế giới, các Hiệp định thương mại tự do đã được ký kết, các rào cản thương mại để doanh nghiệp, hợp tác xã nắm bắt sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu.

Tiếp tục triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp về xúc tiến thương mại, phát triển ngoại thương và thị trường trong nước; thực hiện các kế hoạch triển khai cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; phối hợp Cục Xúc tiến thương mại triển khai các hoạt động chuyển đổi số trong hoạt động xúc tiến thương mại; vận hành Sàn giao dịch thương mại điện tử của tỉnh (tổng kinh phí 2.4 tỷ đồng).

- Triển khai Xây dựng: Kế hoạch chuyển đổi số ngành công thương giai đoạn đến 2025; Chương trình chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến 2030. Rà soát, cải cách thủ tục hành chính trên lĩnh vực ngành công thương./.

Trần Thị Thúy Hằng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOITa